Bài viết theo Điều 29 Luật Dân số số 113/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/07/2026, sửa đổi khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 và điểm c khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15
Từ ngày 01/07/2026, thời gian nghỉ thai sản không còn là con số chung cho mọi lần sinh. Lần sinh thứ hai được nghỉ dài hơn một tháng, và người chồng cũng được nghỉ dài hơn. Thay đổi này nằm trong Luật Dân số, một văn bản mà bộ phận nhân sự ít khi mở ra đọc.
- Sinh con lần đầu: nghỉ thai sản 06 tháng, giữ nguyên như trước.
- Sinh con thứ hai: nghỉ thai sản 07 tháng.
- Thời gian nghỉ trước khi sinh vẫn không quá 02 tháng cho mọi trường hợp.
- Sinh đôi trở lên: tính từ con thứ hai trở đi, mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
- Chồng có vợ sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai được nghỉ 10 ngày làm việc.
- Chế độ thai sản của bảo hiểm xã hội tự động chạy theo, vì Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội dẫn chiếu thẳng về Điều 139 Bộ luật Lao động.
- Người có từ 02 con đẻ trở lên được bổ sung vào diện hưởng chính sách nhà ở xã hội.
- Tất cả hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Bảng thời gian nghỉ thai sản của người mẹ
Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động sau khi được Luật Dân số sửa đổi tách riêng lần sinh thứ hai. Phần còn lại của khoản này giữ nguyên câu chữ cũ.
| Trường hợp | Trước 01/07/2026 | Từ 01/07/2026 |
|---|---|---|
| Sinh con lần đầu | 06 tháng | 06 tháng |
| Sinh con thứ hai | 06 tháng | 07 tháng |
| Sinh đôi lần đầu | 06 tháng cộng 01 tháng cho con thứ hai, tổng 07 tháng | 06 tháng cộng 01 tháng cho con thứ hai, tổng 07 tháng |
| Nghỉ trước khi sinh | Không quá 02 tháng | Không quá 02 tháng |
Sinh con thứ hai nói về lần sinh: người mẹ đã sinh một lần trước đó và nay sinh lần thứ hai. Trường hợp này được nghỉ 07 tháng.
Sinh đôi nói về số con trong một lần sinh. Quy tắc cộng thêm 01 tháng cho mỗi con tính từ con thứ hai trở đi vẫn giữ nguyên.
Hai quy tắc này nằm trong cùng một khoản và không loại trừ nhau.
Chế độ bảo hiểm xã hội có chạy theo không
Có, và cơ chế rất gọn. Khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 viết: thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động. Vì đây là dẫn chiếu động, khi Điều 139 lên 07 tháng thì thời gian hưởng chế độ thai sản cũng thành 07 tháng, không cần sửa thêm Luật Bảo hiểm xã hội.
Trợ cấp thai sản trong thời gian này tính theo Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội, tức bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ.
Người chồng được nghỉ thêm
Luật Dân số sửa điểm c khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội, thêm vế vợ sinh con thứ hai vào cùng nhóm với vợ sinh đôi.
| Trường hợp vợ sinh | Chồng được nghỉ | Căn cứ |
|---|---|---|
| Bình thường | 05 ngày làm việc | Điểm a khoản 2 Điều 53 |
| Phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi | 07 ngày làm việc | Điểm b khoản 2 Điều 53 |
| Sinh đôi hoặc sinh con thứ hai | 10 ngày làm việc | Điểm c khoản 2 Điều 53, sửa bởi Luật Dân số 113/2025 |
| Sinh ba trở lên | 10 ngày làm việc cộng thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con từ con thứ ba | Điểm c khoản 2 Điều 53 |
| Sinh đôi phải phẫu thuật | 14 ngày làm việc | Điểm d khoản 2 Điều 53 |
| Sinh ba trở lên phải phẫu thuật | 14 ngày làm việc cộng thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con từ con thứ ba | Điểm d khoản 2 Điều 53 |
Ngày bắt đầu nghỉ phải nằm trong khoảng 60 ngày kể từ ngày vợ sinh con.
Nghỉ nhiều lần thì ngày bắt đầu của lần cuối cùng vẫn phải trong 60 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh, và tổng thời gian nghỉ không vượt mức quy định.
Đây là quy định tại khoản 3 Điều 53, không bị Luật Dân số sửa.
Quyền đi làm sớm vẫn giữ nguyên
Khoản 4 Điều 139 không bị sửa. Lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng, với ba điều kiện đi kèm: báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý, và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe.
Khi đó người lao động nhận cả hai khoản: tiền lương của những ngày làm việc do doanh nghiệp trả, và trợ cấp thai sản theo Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội. Doanh nghiệp và người lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho thời gian trở lại làm việc.
Một thay đổi khác cùng ngày hiệu lực
Điều 29 Luật Dân số còn bổ sung khoản 13 vào Điều 76 Luật Nhà ở: người có từ 02 con đẻ trở lên thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Các điều khoản dẫn chiếu tại Điều 77 và Điều 78 Luật Nhà ở được sửa theo để bổ sung khoản 13 vào danh sách.
Năm việc nhân sự và kế toán nên làm trước ngày 01/07/2026
- Rà danh sách lao động nữ đang mang thai và dự kiến sinh sau ngày 01/07/2026, đánh dấu ai sinh con thứ hai.
- Cập nhật bảng theo dõi thai sản để có thêm cột số lần sinh, vì đây là căn cứ phân biệt 06 tháng và 07 tháng.
- Sửa nội quy lao động và quy chế nhân sự ở phần thời gian nghỉ thai sản, nếu quy chế đang ghi cứng con số 06 tháng.
- Thông báo cho lao động nam về mốc 10 ngày làm việc khi vợ sinh con thứ hai, kèm nhắc mốc 60 ngày để nộp hồ sơ.
- Kiểm tra phần mềm chấm công và tính lương có cho phép khai thời gian nghỉ 07 tháng hay không.
Xem thêm: Chế độ thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024
Sinh con thứ hai được nghỉ thai sản mấy tháng?
07 tháng, theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số số 113/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Sinh con đầu lòng có được 07 tháng không?
Không. Sinh con lần đầu vẫn nghỉ 06 tháng. Mốc 07 tháng chỉ áp cho trường hợp sinh con thứ hai.
Nghỉ trước khi sinh có được dài hơn không?
Không. Thời gian nghỉ trước khi sinh vẫn không quá 02 tháng, phần này của khoản 1 Điều 139 giữ nguyên.
Sinh đôi ở lần sinh thứ hai thì tính thế nào?
Áp cả hai quy tắc trong cùng khoản 1 Điều 139: thời gian nghỉ của lần sinh thứ hai là 07 tháng, và tính từ con thứ hai trở đi mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Bảo hiểm xã hội có trả đủ 07 tháng không?
Có. Khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được thực hiện theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động, nên chế độ chạy theo mốc mới.
Chồng được nghỉ bao nhiêu ngày khi vợ sinh con thứ hai?
10 ngày làm việc, theo điểm c khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 29 Luật Dân số.
Đi làm sớm trước khi hết thời gian nghỉ có được không?
Được, khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng, có báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Có chính sách nào khác cho người sinh con thứ hai không?
Luật Dân số bổ sung khoản 13 vào Điều 76 Luật Nhà ở, đưa người có từ 02 con đẻ trở lên vào diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
- Luật Dân số số 113/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/07/2026: Điều 29.
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14: khoản 1 và khoản 4 Điều 139, khoản 1 Điều 139 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số số 113/2025/QH15.
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15: Điều 53 và Điều 59, điểm c khoản 2 Điều 53 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 29 Luật Dân số số 113/2025/QH15.
- Luật Nhà ở số 27/2023/QH15: Điều 76, Điều 77 và Điều 78, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 29 Luật Dân số số 113/2025/QH15.


[…] Xem thêm: Nghỉ thai sản 07 tháng khi sinh con thứ hai […]