02/09/2026
Từ năm tài chính 2026, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chuyển sang một khung tài chính mới. Thông tư 33/2026/TT-BTC có hiệu lực ngày 01/5/2026, đúng ngày Luật Bảo hiểm tiền gửi 111/2025/QH15 bắt đầu áp dụng, và thay thế Thông tư 312/2016/TT-BTC cùng thông tư sửa đổi nó, bộ đôi đã dùng suốt gần mười năm.
- Thông tư 33/2026/TT-BTC hiệu lực 01/5/2026, áp dụng từ năm tài chính 2026.
- Chênh lệch thu chi năm 2024 và 2025 vẫn phân phối theo thông tư cũ đã bị thay thế.
- Giá trị còn lại của tài sản cố định không vượt quá 30% vốn chủ sở hữu.
- Quỹ đầu tư phát triển trích không quá 10%, quỹ dự phòng tài chính không quá 5%.
- Phần chênh lệch còn lại sau các quỹ được bổ sung vào quỹ dự phòng nghiệp vụ.
Một tổ chức tài chính không vì lợi nhuận
Điều 3 của thông tư đặt nền cho toàn bộ phần còn lại: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, tự chủ tài chính và tự bù đắp chi phí. Vì thế bảng kết quả của đơn vị này không gọi là lợi nhuận mà gọi là chênh lệch thu chi, và cách chia phần chênh lệch đó cũng đi theo logic riêng.
Nguồn vốn hoạt động lấy theo Điều 28 Luật Bảo hiểm tiền gửi 111/2025/QH15, gồm vốn điều lệ do Nhà nước cấp, vốn vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước hoặc vốn tiếp nhận hỗ trợ có hoàn trả từ ngân sách theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ khi tạm thời không đủ nguồn trả tiền bảo hiểm, quỹ dự phòng nghiệp vụ và quỹ đầu tư phát triển.
Quỹ dự phòng nghiệp vụ, cái túi trung tâm
Quỹ dự phòng nghiệp vụ là nơi tiền chảy vào từ nhiều hướng và cũng là nơi chi trả cho người gửi tiền. Theo Điều 28 của luật, quỹ này hình thành từ tiền thu phí bảo hiểm tiền gửi, các khoản tiền bảo hiểm không có người nhận, phần chênh lệch thu chi còn lại hằng năm sau khi trích các quỹ, và số tiền nhận được từ việc thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Điều 12 của thông tư nói rõ hướng đi của khoản cuối: tiền mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam nhận được từ thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản được bổ sung vào quỹ dự phòng nghiệp vụ. Khoản đã chi trả tiền gửi cho người gửi tiền thì hạch toán giảm quỹ này.
Trần 30% vốn chủ sở hữu cho tài sản cố định
Việc đầu tư, mua tài sản cố định thực hiện theo quy định của pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, kèm một giới hạn định lượng riêng.
Giá trị còn lại của tài sản cố định, tính cả giá trị đầu tư và mua mới, không vượt quá 30% vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu lấy trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm gần nhất với thời điểm quyết định đầu tư, mua tài sản.
Khoản đầu tư phải nằm trong phạm vi kế hoạch năm được Hội đồng quản trị phê duyệt.
Các khoản thu
Điều 14 chia nguồn thu thành ba nhóm, ghi nhận theo khoản 1 Điều 30 Luật Bảo hiểm tiền gửi.
| Nhóm | Khoản thu |
|---|---|
| Hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi | thu tiền chậm nộp phí bảo hiểm tiền gửi và các khoản thu nghiệp vụ khác có liên quan |
| Hoạt động đầu tư | thu lãi từ hoạt động đầu tư theo Luật Bảo hiểm tiền gửi |
| Hoạt động khác | thu từ chuyển nhượng và thanh lý tài sản; cho thuê tài sản; cho vay đặc biệt từ quỹ dự phòng nghiệp vụ; lãi trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước; đào tạo phổ biến kiến thức về bảo hiểm tiền gửi cho bên ngoài; các khoản thu khác theo quy định |
Khoản thu từ hoạt động cho vay đặc biệt lấy từ quỹ dự phòng nghiệp vụ phải được theo dõi chi tiết riêng. Mọi khoản thu chi đều phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ và phản ánh trong sổ kế toán, quy đổi về đồng Việt Nam nếu phát sinh bằng ngoại tệ.
Chia chênh lệch thu chi hằng năm
Điều 17 dựng một bậc thang giống về hình dạng với cơ chế phân phối lợi nhuận của ngân hàng có vốn nhà nước, khác ở tỷ lệ và ở điểm dừng cuối cùng.
- Trước hết bù đắp phần chênh lệch thu nhỏ hơn chi của các năm trước.
- Trích không quá 10% vào quỹ đầu tư phát triển, trần của quỹ bằng mức vốn điều lệ.
- Trích không quá 5% vào quỹ dự phòng tài chính, trần của quỹ bằng 20% mức vốn điều lệ.
- Trích quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo kết quả xếp loại.
- Phần chênh lệch còn lại bổ sung vào quỹ dự phòng nghiệp vụ.
| Kết quả xếp loại | Mức trích tối đa cho hai quỹ khen thưởng và phúc lợi |
|---|---|
| Loại A | không quá 3 tháng lương thực hiện |
| Loại B | không quá 2 tháng lương thực hiện |
| Loại C | không quá 1 tháng lương thực hiện |
| Không thực hiện xếp loại | không được trích |
Tỷ lệ chia giữa quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi do Hội đồng quản trị quyết định. Khi phần chênh lệch còn lại sau khi trích quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự phòng tài chính không đủ nguồn cho hai quỹ này, thông tư cho phép giảm trừ phần đã trích ở hai quỹ trên để bảo đảm mức trích, nên phương án phân phối cần tính ngược từ mức trích khen thưởng phúc lợi.
Quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi được tiêu vào việc gì
| Quỹ | Được dùng vào |
|---|---|
| Quỹ khen thưởng | thưởng cuối năm, thưởng thường kỳ, thưởng đột xuất, thưởng theo pháp luật về thi đua khen thưởng cho cá nhân và tập thể trong đơn vị; thưởng cho cá nhân, đơn vị bên ngoài có đóng góp cho hoạt động và công tác quản lý |
| Quỹ phúc lợi | đầu tư xây dựng, sửa chữa, bổ sung vốn xây dựng công trình phúc lợi; góp vốn xây dựng công trình phúc lợi chung trong ngành; chi hoạt động thể thao, văn hóa, phúc lợi công cộng; trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất cho người lao động kể cả người đã nghỉ hưu, mất sức |
Mức thưởng do Tổng giám đốc quyết định theo điều lệ và quy chế quản lý sử dụng các quỹ. Riêng quỹ phúc lợi do Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc phối hợp với Ban Chấp hành Công đoàn quản lý, sử dụng.
Thuế, kế hoạch tài chính và năm tài chính
- Thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Với khoản thu nhập khác ngoài thu nhập từ hoạt động có thu do thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, đơn vị thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.
- Kế hoạch tài chính hằng năm gồm kế hoạch nguồn vốn, thu nhập, chi phí và các nội dung khác theo Điều 19 của thông tư.
- Năm tài chính bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc ngày 31/12.
- Đơn vị tự xây dựng quy chế tài chính của mình trên cơ sở thông tư này và pháp luật có liên quan.
Mốc chuyển tiếp cần nhớ
Thông tư có hiệu lực từ 01/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Việc phân phối chênh lệch thu chi của năm tài chính 2024 và 2025 vẫn thực hiện theo Thông tư 312/2016/TT-BTC cùng thông tư sửa đổi nó, dù hai văn bản này hết hiệu lực kể từ ngày 01/5/2026.
Chênh lệch thu chi năm 2025 chia theo văn bản nào?
Theo thông tư cũ về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cùng thông tư sửa đổi nó. Điều 25 của Thông tư 33/2026/TT-BTC giữ nguyên hai văn bản đã hết hiệu lực này cho năm tài chính 2024 và 2025.
Phần chênh lệch còn lại sau khi trích hết các quỹ đi đâu?
Bổ sung vào quỹ dự phòng nghiệp vụ, theo Điều 28 Luật Bảo hiểm tiền gửi 111/2025/QH15. Quỹ này dùng để chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền và tham gia can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Vốn chủ sở hữu tính trần tài sản cố định lấy ở thời điểm nào?
Lấy trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định đầu tư, mua tài sản cố định.
Tiền thu hồi từ thanh lý tài sản ngân hàng phá sản có được ghi vào thu nhập không?
Không ghi vào các khoản thu tại Điều 14. Số tiền nhận được từ việc thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản được bổ sung thẳng vào quỹ dự phòng nghiệp vụ.
Đơn vị không thực hiện xếp loại thì có quỹ khen thưởng không?
Không. Trường hợp không thực hiện xếp loại thì không được trích lập hai quỹ khen thưởng và phúc lợi.
- Thông tư 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, hiệu lực từ 01/05/2026
- Luật Bảo hiểm tiền gửi 111/2025/QH15, hiệu lực từ 01/05/2026
Xem thêm: Chế độ tài chính của tổ chức tín dụng: doanh thu, chi phí và xử lý tổn thất


[…] Xem thêm: Chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam từ năm 2026 […]