Bài viết theo Điều 34, Điều 35 và các Điều 38 đến 41 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/07/2025
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 lần đầu định nghĩa riêng hai hành vi từng bị gộp làm một: chậm đóng và trốn đóng. Tiền phạt chậm nộp giống nhau, nhưng hậu quả pháp lý thì khác hẳn: trốn đóng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo với phương thức đóng hằng tháng.
- Quá hạn mà chưa đóng đủ là chậm đóng.
- Chậm đóng biến thành trốn đóng khi qua thêm 60 ngày và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc bằng văn bản.
- Không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người trong 60 ngày là chậm đóng; sau 60 ngày là trốn đóng.
- Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định bị coi là trốn đóng ngay, không có giai đoạn chậm đóng.
- Cả hai đều nộp thêm 0,03% mỗi ngày tính trên số tiền và số ngày.
- Chậm đóng thì bị xử phạt hành chính. Trốn đóng thì bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Cả hai đều bị công khai trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan bảo hiểm xã hội và không được xét thi đua, khen thưởng.
Hạn đóng, mốc đếm ngày bắt đầu từ đâu
Khoản 4 Điều 34 quy định thời hạn đóng chậm nhất của người sử dụng lao động. Đây là mốc gốc, mọi cách tính chậm đóng và trốn đóng đều đếm từ đây.
| Phương thức đóng | Hạn đóng chậm nhất |
|---|---|
| Đóng hằng tháng | Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo |
| Đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần | Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng |
Tiền đóng của người sử dụng lao động gồm 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất, tính trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Bốn trường hợp là chậm đóng
Điều 38 liệt kê bốn tình huống. Điểm chung là doanh nghiệp còn ở trong vùng đệm, chưa bị đẩy sang nhóm trốn đóng.
- Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ đã đăng ký, kể từ sau ngày đóng chậm nhất theo khoản 4 Điều 34.
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28.
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia.
- Thuộc trường hợp có lý do chính đáng nên không bị coi là trốn đóng theo khoản 2 Điều 39.
Bảy trường hợp là trốn đóng
Điều 39 mô tả trốn đóng là hành vi của người sử dụng lao động nhằm không đóng hoặc đóng không đầy đủ cho người lao động. Ba nhóm điều kiện khác nhau dẫn đến cùng một kết luận.
| Nhóm | Hành vi | Điều kiện thêm |
|---|---|---|
| Đăng ký thiếu người | Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc bảo hiểm thất nghiệp | Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải đăng ký |
| Đăng ký thiếu lương | Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31, hoặc thấp hơn quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp | Không có thời gian đệm, bị coi là trốn đóng ngay |
| Đóng thiếu tiền đã đăng ký | Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký | Sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo Điều 35 |
| Nhóm còn lại | Các trường hợp khác bị coi là trốn đóng | Theo quy định của Chính phủ |
Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 39 không kèm mốc 60 ngày và cũng không kèm điều kiện đôn đốc.
Doanh nghiệp ký hợp đồng một mức lương nhưng đăng ký đóng bảo hiểm ở mức thấp hơn quy định thì rơi thẳng vào nhóm trốn đóng, kể cả khi vẫn nộp tiền đúng hạn hằng tháng.
Vai trò của văn bản đôn đốc
Điều 35 giao cơ quan bảo hiểm xã hội ba việc, và việc thứ nhất là bản lề chuyển một khoản chậm đóng thành trốn đóng.
- Phát hiện và đôn đốc bằng văn bản với trường hợp chậm đóng theo khoản 1 Điều 38. Khi phát hiện chậm đóng thuộc khoản 2, khoản 3 Điều 38 hoặc trốn đóng thì kịp thời đôn đốc bằng văn bản.
- Công khai trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan bảo hiểm xã hội về việc người sử dụng lao động chậm đóng, trốn đóng.
- Gửi thông tin đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và cơ quan thanh tra có liên quan để xem xét xử lý theo thẩm quyền.
Vì điểm đ khoản 1 Điều 39 đòi cả hai điều kiện cùng lúc là quá 60 ngày và đã được đôn đốc, nên văn bản đôn đốc là mốc doanh nghiệp cần theo dõi sát. Nhận được văn bản này mà xử lý trong hạn thì vẫn giữ được ở nhóm chậm đóng.
Hai bảng chế tài đặt cạnh nhau
| Biện pháp | Chậm đóng, Điều 40 | Trốn đóng, Điều 41 |
|---|---|---|
| Đóng đủ số tiền | Bắt buộc đóng đủ số tiền chậm đóng | Bắt buộc đóng đủ số tiền trốn đóng |
| Khoản nộp thêm | 0,03% mỗi ngày trên số tiền và số ngày chậm đóng | 0,03% mỗi ngày trên số tiền và số ngày trốn đóng |
| Chế tài | Xử phạt vi phạm hành chính | Xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự |
| Thi đua khen thưởng | Không xem xét trao tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng | Không xem xét trao tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng |
Khoản 0,03% mỗi ngày tương đương khoảng 10,95% một năm, nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Năm việc nên làm ngay
- Đặt lịch nhắc đóng bảo hiểm trước ngày cuối cùng của tháng tiếp theo vài ngày, vì đây là mốc gốc để đếm mọi thứ.
- Rà lại danh sách lao động thuộc diện đóng bắt buộc mỗi tháng, đặc biệt người mới ký hợp đồng và người hết thử việc.
- Đối chiếu mức lương ghi trên hợp đồng với mức đăng ký đóng bảo hiểm, vì lệch mức là rơi thẳng vào nhóm trốn đóng.
- Mở và lưu mọi văn bản đôn đốc của cơ quan bảo hiểm xã hội vào một chỗ, kèm ngày nhận.
- Tra định kỳ tên doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan bảo hiểm xã hội để biết mình có bị công khai chậm đóng hay không.
Xem thêm: Truy thu và truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất ngày nào?
Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo với phương thức đóng hằng tháng. Với phương thức 03 tháng hoặc 06 tháng một lần thì là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng.
Chậm đóng khác trốn đóng ở chỗ nào?
Chậm đóng là chưa đóng đủ sau hạn. Chậm đóng chuyển thành trốn đóng khi qua thêm 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc bằng văn bản theo Điều 35.
Tiền phạt chậm nộp bảo hiểm là bao nhiêu?
0,03% mỗi ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng hoặc trốn đóng, nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Mức này áp dụng cho cả hai hành vi.
Đăng ký lương thấp hơn thực tế có phải trốn đóng không?
Có. Điểm c khoản 1 Điều 39 xếp việc đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 vào nhóm trốn đóng, không kèm mốc 60 ngày.
Quên đăng ký cho một nhân viên mới thì sao?
Trong 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải đăng ký là chậm đóng. Sau 60 ngày là trốn đóng.
Trốn đóng có bị xử lý hình sự không?
Điều 41 nêu biện pháp xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp chậm đóng có bị bêu tên không?
Có. Khoản 2 Điều 35 quy định cơ quan bảo hiểm xã hội công khai trên Cổng thông tin điện tử về việc người sử dụng lao động chậm đóng, trốn đóng.
Có trường hợp nào chậm mà không bị coi là trốn đóng không?
Có. Khoản 2 Điều 39 giao Chính phủ quy định các trường hợp thuộc khoản 1 nhưng có lý do chính đáng thì không bị coi là trốn đóng, và khoản 4 Điều 38 xếp các trường hợp đó vào nhóm chậm đóng.
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/07/2025: khoản 4 Điều 34, Điều 35, Điều 38, Điều 39, Điều 40 và Điều 41.


[…] Xem thêm: Chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc […]