Bài viết theo Nghị định số 255/2026/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết, hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Chọn sai phương pháp xác định giá là lý do phổ biến khiến hồ sơ giao dịch liên kết bị bác. Nghị định 255/2026 không xếp ba nhóm phương pháp theo thứ tự ưu tiên cứng, nhưng mỗi phương pháp có danh sách trường hợp bị loại trừ rất cụ thể, và đó mới là thứ quyết định.
- Ba nhóm: so sánh giá giao dịch độc lập, so sánh tỷ suất lợi nhuận, phân bổ lợi nhuận.
- Căn cứ chọn là đặc điểm của giao dịch liên kết và thông tin dữ liệu sẵn có.
- Phương pháp phải áp dụng thống nhất trong toàn bộ chu kỳ, giai đoạn sản xuất kinh doanh.
- Giá bán lại không áp cho nhà phân phối sở hữu tài sản vô hình có giá trị của tập đoàn.
- Giá vốn cộng lãi không áp cho doanh nghiệp sản xuất tự chủ.
- Tỷ suất lợi nhuận thuần dùng khi thiếu dữ liệu cho hai phương pháp gộp trên.
- Phân bổ lợi nhuận dành cho giao dịch tích hợp khép kín, kinh tế số, hoặc doanh nghiệp tự chủ toàn chuỗi.
- Lợi nhuận điều chỉnh trong phương pháp phân bổ gồm lợi nhuận cơ bản và lợi nhuận phụ trội.
Nguyên tắc chọn
Điều 12 đặt ra bốn ràng buộc cho việc chọn phương pháp.
- Phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập, bản chất giao dịch và chức năng của người nộp thuế.
- Tính toán và áp dụng thống nhất trong toàn bộ chu kỳ, giai đoạn sản xuất kinh doanh.
- Căn cứ dữ liệu tài chính của các đối tượng so sánh độc lập lựa chọn theo nguyên tắc phân tích, so sánh tại các Điều 6 đến Điều 10.
- Chọn trong ba nhóm tại Điều 13, Điều 14, Điều 15, căn cứ đặc điểm của giao dịch liên kết và thông tin dữ liệu sẵn có.
Yêu cầu áp dụng thống nhất trong toàn bộ chu kỳ, giai đoạn sản xuất kinh doanh nghĩa là không được đổi phương pháp theo năm để chọn kết quả có lợi.
Khi thực sự phải đổi vì mô hình kinh doanh thay đổi, hồ sơ cần nêu rõ sự thay đổi về chức năng, tài sản, rủi ro dẫn đến việc đổi phương pháp.
Nhóm một: so sánh giá giao dịch độc lập
Điều 13 dành cho những giao dịch có giá tham chiếu rõ ràng. Bốn nhóm áp dụng.
- Từng chủng loại hàng hóa, tài sản hữu hình, loại hình dịch vụ có điều kiện giao dịch, lưu thông phổ biến trên thị trường hoặc có giá được công bố trên các sàn giao dịch hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế.
- Giao dịch thanh toán phí bản quyền khi khai thác tài sản vô hình.
- Thanh toán lãi vay trong hoạt động vay và cho vay.
- Người nộp thuế thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết đối với sản phẩm tương đồng về đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng.
Nguyên tắc áp dụng: không có khác biệt về đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng có ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm khi so sánh. Có khác biệt trọng yếu thì phải loại trừ các khác biệt đó trước khi so.
Nhóm hai: so sánh tỷ suất lợi nhuận
Điều 14 áp khi không có dữ liệu để dùng nhóm một, hoặc không so sánh được theo từng sản phẩm, hoặc người nộp thuế không thực hiện chức năng tự chủ đối với toàn bộ chuỗi hoạt động. Nhóm này có ba phương pháp con.
| Phương pháp | Áp dụng cho | Không áp dụng cho |
|---|---|---|
| Giá bán lại tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu |
Người nộp thuế bán hàng, phân phối lại sản phẩm mua từ bên liên kết cho khách hàng độc lập; không tạo ra tài sản vô hình gắn với sản phẩm; không tham gia phát triển, gia tăng, duy trì, bảo vệ tài sản vô hình của bên liên kết; không gia công, chế biến, lắp ráp làm thay đổi tính chất sản phẩm | Nhà phân phối sở hữu tài sản vô hình có giá trị của tập đoàn: thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, danh sách khách hàng, kênh phân phối, biểu tượng, hình ảnh và các yếu tố nhận diện thương hiệu; hoặc có phát sinh chi phí tạo lập, thiết kế kênh phân phối, nhận diện thương hiệu, chi phí sau bán hàng |
| Giá vốn cộng lãi tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn |
Người nộp thuế không sở hữu tài sản vô hình và gánh chịu ít rủi ro kinh doanh; sản xuất theo hợp đồng, đơn đặt hàng; gia công, lắp ráp, chế tạo, chế biến, cài đặt thiết bị; thu mua, cung ứng sản phẩm; cung cấp dịch vụ; nghiên cứu phát triển theo hợp đồng cho bên liên kết | Doanh nghiệp sản xuất tự chủ, thực hiện các chức năng từ nghiên cứu phát triển sản phẩm đến xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, chiến lược thị trường, bảo hành sản phẩm và chăm sóc khách hàng |
| Tỷ suất lợi nhuận thuần | Không có thông tin để dùng phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; không có dữ liệu về phương pháp hạch toán kế toán của đối tượng so sánh; hoặc không tìm được đối tượng so sánh có chức năng và sản phẩm tương đồng nên không đủ cơ sở dùng hai phương pháp gộp |
Danh sách loại trừ của phương pháp giá bán lại rất rộng: chỉ cần doanh nghiệp phát sinh chi phí tạo lập, thiết kế kênh phân phối, nhận diện thương hiệu, hoặc chi phí sau bán hàng là đã ra khỏi phạm vi.
Nhiều nhà phân phối tại Việt Nam có làm nghiên cứu thị trường, tiếp thị, xúc tiến thương mại và bảo hành, nên thực tế phải chuyển sang phương pháp tỷ suất lợi nhuận thuần.
Cách kiểm tra nhanh: nếu doanh nghiệp bỏ tiền xây thương hiệu hoặc kênh bán cho sản phẩm mình phân phối, đó là dấu hiệu không còn là nhà phân phối đơn thuần.
Nhóm ba: phân bổ lợi nhuận
Điều 15 dành cho những giao dịch mà không thể tách riêng đóng góp của từng bên.
- Giao dịch liên kết đặc thù, được tích hợp, khép kín trong tập đoàn; phát triển sản phẩm mới; sử dụng công nghệ độc quyền; tham gia chuỗi giá trị giao dịch độc quyền; hoặc quá trình phát triển, gia tăng, duy trì, bảo vệ và khai thác tài sản vô hình độc quyền; các giao dịch tài chính phức tạp liên quan nhiều thị trường tài chính thế giới.
- Giao dịch kinh tế số không có căn cứ xác định giá giữa các bên liên kết, hoặc tham gia tạo giá trị tăng thêm thu được từ hợp lực trong tập đoàn.
- Người nộp thuế thực hiện chức năng tự chủ đối với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh và không thuộc đối tượng của Điều 13, Điều 14.
Cách xác định: lợi nhuận được điều chỉnh của người nộp thuế bằng lợi nhuận cơ bản cộng lợi nhuận phụ trội.
| Thành phần | Cách xác định |
|---|---|
| Lợi nhuận cơ bản | Theo phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận quy định tại Điều 14 |
| Lợi nhuận phụ trội | Theo tỷ lệ phân bổ dựa trên một hoặc một số yếu tố: doanh thu, chi phí, tài sản hoặc nhân lực của các bên liên kết tham gia giao dịch, phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập |
Phương pháp này áp cho tổng lợi nhuận thực tế và lợi nhuận tiềm năng xác định bằng số liệu tài chính trên cơ sở chứng từ hợp lý, hợp lệ. Giá trị và lợi nhuận của giao dịch phải xác định theo cùng một phương pháp kế toán trong toàn bộ thời gian áp dụng.
Ba câu hỏi để chọn đúng
- Có giá tham chiếu cho đúng loại hàng, dịch vụ này trên thị trường hoặc trong chính giao dịch độc lập của mình không? Có thì xét nhóm một.
- Doanh nghiệp có tự chủ toàn chuỗi hay chỉ làm một khâu theo đặt hàng? Làm một khâu thì xét nhóm hai, và chọn giá bán lại hay giá vốn cộng lãi tùy khâu đó là phân phối hay sản xuất, gia công.
- Giao dịch có tích hợp, khép kín đến mức không tách được đóng góp từng bên không? Có thì xét nhóm ba.
Sau khi chọn được nhóm, việc còn lại là đối chiếu danh sách loại trừ của phương pháp đó. Đây là bước hay bị bỏ qua và cũng là chỗ cơ quan thuế soi kỹ nhất, vì danh sách loại trừ mô tả rất sát thực tế doanh nghiệp Việt Nam.
Có phải thử lần lượt từng phương pháp theo thứ tự không?
Điều 12 Nghị định số 255/2026/NĐ-CP không đặt thứ tự ưu tiên cứng. Phương pháp được lựa chọn trong các phương pháp tại Điều 13, Điều 14, Điều 15 căn cứ vào đặc điểm của giao dịch liên kết và thông tin dữ liệu sẵn có, đồng thời phải phù hợp bản chất giao dịch và chức năng của người nộp thuế.
Công ty phân phối hàng của công ty mẹ thì dùng phương pháp nào?
Thường là phương pháp giá bán lại, nhưng phải kiểm tra danh sách loại trừ. Phương pháp này không áp cho nhà phân phối sở hữu tài sản vô hình có giá trị của tập đoàn, hoặc có phát sinh chi phí tạo lập kênh phân phối, nhận diện thương hiệu, chi phí sau bán hàng. Rơi vào các trường hợp đó thì chuyển sang phương pháp tỷ suất lợi nhuận thuần.
Doanh nghiệp gia công cho công ty mẹ dùng phương pháp nào?
Phương pháp giá vốn cộng lãi, áp cho người nộp thuế không sở hữu tài sản vô hình và gánh chịu ít rủi ro kinh doanh, thực hiện chức năng sản xuất theo hợp đồng hoặc gia công, lắp ráp, chế tạo, chế biến. Doanh nghiệp sản xuất tự chủ thì không dùng phương pháp này.
Khi nào dùng phương pháp tỷ suất lợi nhuận thuần?
Khi không có thông tin để áp dụng phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; không có dữ liệu và thông tin về phương pháp hạch toán kế toán của các đối tượng so sánh độc lập; hoặc không tìm được đối tượng so sánh có chức năng và sản phẩm tương đồng nên không đủ cơ sở áp dụng hai phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận gộp.
Phương pháp phân bổ lợi nhuận tính ra sao?
Lợi nhuận được điều chỉnh của người nộp thuế bằng tổng lợi nhuận cơ bản và lợi nhuận phụ trội. Lợi nhuận cơ bản xác định theo phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận tại Điều 14. Lợi nhuận phụ trội xác định theo tỷ lệ phân bổ dựa trên một hoặc một số yếu tố như doanh thu, chi phí, tài sản hoặc nhân lực của các bên liên kết tham gia giao dịch.
Có được đổi phương pháp mỗi năm không?
Điều 12 yêu cầu tính toán và áp dụng thống nhất trong toàn bộ chu kỳ, giai đoạn sản xuất kinh doanh. Việc đổi phương pháp theo từng năm để chọn kết quả có lợi đi ngược yêu cầu này. Khi mô hình kinh doanh thay đổi thật, hồ sơ cần nêu rõ thay đổi về chức năng, tài sản, rủi ro dẫn đến việc đổi phương pháp.
Lãi vay giữa các bên liên kết dùng phương pháp nào?
Điều 13 liệt kê thanh toán lãi vay trong hoạt động vay và cho vay vào các trường hợp áp dụng phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập, cùng với thanh toán phí bản quyền khi khai thác tài sản vô hình.
Giao dịch kinh tế số xử lý thế nào?
Điểm b khoản 1 Điều 15 xếp giao dịch kinh tế số không có căn cứ xác định giá giữa các bên liên kết, hoặc tham gia việc tạo giá trị tăng thêm thu được từ hợp lực trong tập đoàn, vào phạm vi phương pháp phân bổ lợi nhuận.
- Nghị định số 255/2026/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết, Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15
Xem thêm: Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết và các trường hợp được miễn

