02/09/2026
Doanh nghiệp thanh lý tài sản qua đấu giá, hoặc tham gia mua hàng đấu giá. Có một quy tắc ít người để ý: trả giá rồi rút lại không chỉ mất quyền tiếp tục tham gia, mà còn có thể phải bù phần chênh lệch nếu lô hàng cuối cùng bán được ít hơn.
- Hai phương thức đấu giá: trả giá lên và đặt giá xuống.
- Người tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá, hoặc chính người bán hàng.
- Cuộc đấu giá không thành khi không có người tham gia, hoặc giá cao nhất thấp hơn giá khởi điểm.
- Người rút lại giá đã trả mất quyền tiếp tục tham gia cuộc đấu giá đó.
- Rút giá mà hàng bán được thấp hơn thì người rút phải trả khoản chênh lệch cho người tổ chức.
Hai phương thức đấu giá
| Phương thức | Cách xác định người mua |
|---|---|
| Trả giá lên | Người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng |
| Đặt giá xuống | Người đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn giá khởi điểm là người có quyền mua hàng |
Điều 186 Luật Thương mại 2005 số 36/2005/QH11 xác định người tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá, hoặc chính người bán hàng trong trường hợp người bán tự tổ chức.
Khi nào đấu giá không thành
Điều 202 Luật Thương mại 2005 nêu hai trường hợp:
- Không có người tham gia đấu giá, trả giá;
- Giá cao nhất đã trả thấp hơn mức giá khởi điểm, đối với phương thức trả giá lên.
Hậu quả của việc rút lại giá đã trả
Điều 204 Luật Thương mại 2005 xử lý tình huống người trả giá cao nhất rút lại giá:
| Phương thức | Cuộc đấu giá tiếp tục từ đâu |
|---|---|
| Trả giá lên | Từ giá của người trả giá liền kề trước đó |
| Đặt giá xuống | Từ giá đã đặt liền kề trước đó |
Thứ nhất, người rút lại giá đã trả hoặc rút lại việc chấp nhận giá không được tiếp tục tham gia đấu giá.
Thứ hai, nếu giá bán hàng hóa cuối cùng thấp hơn giá mà người đó đã trả, người rút giá phải trả khoản tiền chênh lệch cho người tổ chức đấu giá. Trường hợp hàng bán được giá cao hơn thì người rút giá không được hưởng phần chênh lệch đó.
Văn bản bán đấu giá hàng hóa
Điều 203 Luật Thương mại 2005 xác định văn bản bán đấu giá hàng hóa là văn bản xác nhận việc mua bán, và phải có tám nội dung:
- Tên, địa chỉ của người tổ chức đấu giá;
- Tên, địa chỉ của người điều hành đấu giá;
- Tên, địa chỉ của người bán hàng;
- Tên, địa chỉ của người mua hàng;
- Thời gian, địa điểm đấu giá;
- Hàng hóa bán đấu giá;
- Giá đã bán;
- Tên, địa chỉ của hai người chứng kiến.
Yêu cầu về hai người chứng kiến là điểm đặc thù của đấu giá hàng hóa theo Luật Thương mại. Văn bản này là căn cứ để hai bên hoàn tất thủ tục chuyển giao và lập hóa đơn.
Trả giá cao nhất rồi đổi ý thì mất gì?
Mất quyền tiếp tục tham gia cuộc đấu giá đó theo khoản 2 Điều 204 Luật Thương mại 2005. Ngoài ra, nếu hàng cuối cùng bán được thấp hơn mức giá mình đã trả thì phải trả khoản tiền chênh lệch cho người tổ chức đấu giá.
Hàng bán cao hơn giá mình đã rút thì có được hưởng chênh lệch không?
Không. Khoản 3 Điều 204 chỉ đặt nghĩa vụ trả chênh lệch khi giá bán thấp hơn, không cho người rút giá hưởng phần chênh lệch khi giá bán cao hơn.
Không ai trả tới giá khởi điểm thì sao?
Cuộc đấu giá được coi là không thành theo khoản 2 Điều 202 Luật Thương mại 2005, với phương thức trả giá lên.
Doanh nghiệp tự tổ chức đấu giá tài sản của mình được không?
Được. Điều 186 Luật Thương mại 2005 cho phép người bán hàng tự tổ chức đấu giá, bên cạnh việc thuê thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá.
Văn bản bán đấu giá thay được hợp đồng mua bán không?
Điều 203 xác định đây là văn bản xác nhận việc mua bán, với tám nội dung bắt buộc gồm cả giá đã bán và tên hai người chứng kiến.
- Luật Thương mại 2005 số 36/2005/QH11, các điều 185, 186, 202, 203 và 204

