02/09/2026
Có một tình huống nhiều doanh nghiệp chưa lường: đang nợ tiền hàng một đối tác, rồi nhận được quyết định cưỡng chế của cơ quan thuế yêu cầu nộp thẳng khoản đó vào ngân sách. Đây là biện pháp thu tiền, tài sản khác của người nộp thuế do bên thứ ba đang nắm giữ, quy định tại Điều 70 Nghị định 252/2026/NĐ-CP.
- Bên thứ ba đang nắm giữ tiền phải nộp thay trong 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định cưỡng chế.
- Bên thứ ba có khoản nợ đến hạn phải nộp thay ngay trong ngày khoản nợ đến hạn thanh toán.
- Từ khi nhận văn bản yêu cầu xác minh, bên thứ ba không được chuyển trả tiền hay tài sản cho người bị cưỡng chế.
- Không cung cấp được thông tin thì phải giải trình bằng văn bản trong 05 ngày làm việc.
- Số tiền đã nộp thay được xác định là số tiền đã thanh toán cho người bị cưỡng chế.
Ai bị coi là bên thứ ba
Biện pháp này được áp dụng khi cơ quan quản lý thuế có đầy đủ căn cứ hợp pháp xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc đang nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế. Hai nhóm được nêu tên:
- Tổ chức, cá nhân đang có khoản nợ đến hạn phải trả cho người nộp thuế bị cưỡng chế.
- Tổ chức, cá nhân, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được người nộp thuế bị cưỡng chế ủy quyền nắm giữ tiền, tài sản, hàng hóa, giấy tờ, chứng chỉ có giá.
Điều kiện chung là số tiền, tài sản, hàng hóa, giấy tờ, chứng chỉ có giá mà bên thứ ba đang nắm giữ phải thuộc sở hữu của người nộp thuế bị cưỡng chế. Với doanh nghiệp thông thường, nhóm hay rơi vào diện này là bên mua hàng còn công nợ phải trả cho nhà cung cấp đang bị cưỡng chế thuế.
Hai mốc thời hạn phải nộp thay
| Trường hợp | Thời hạn nộp thay |
|---|---|
| Bên thứ ba đang nắm giữ tiền của người bị cưỡng chế | Trong 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế |
| Bên thứ ba có khoản nợ phải trả cho người bị cưỡng chế | Ngay trong ngày khoản nợ đến hạn thanh toán |
Số tiền bên thứ ba nộp vào ngân sách nhà nước thay cho người nộp thuế bị cưỡng chế được xác định là số tiền đã thanh toán cho người nộp thuế bị cưỡng chế. Về hạch toán, khoản này ghi giảm công nợ phải trả nhà cung cấp, chứng từ là quyết định cưỡng chế cùng giấy nộp tiền vào ngân sách.
Cấm chuyển trả kể từ khi nhận văn bản xác minh
Trước khi ban hành quyết định cưỡng chế, cơ quan quản lý thuế gửi văn bản yêu cầu bên thứ ba cung cấp thông tin về tiền, tài sản đang nắm giữ hoặc công nợ phải trả đối với người nộp thuế bị cưỡng chế.
Kể từ thời điểm nhận được văn bản yêu cầu xác minh, bên thứ ba không được chuyển trả tiền, gồm cả khoản nợ phải thanh toán cho người nộp thuế, và không được chuyển trả tài sản khác cho người bị cưỡng chế, cho tới khi nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chuyển giao tài sản theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế. Việc thanh toán cho đối tác sau khi đã nhận văn bản này là vi phạm, dù chưa có quyết định cưỡng chế.
Trường hợp bên thứ ba không cung cấp được thông tin theo yêu cầu thì phải có văn bản giải trình gửi cơ quan quản lý thuế trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu.
Trách nhiệm cung cấp thông tin
Bên thứ ba phải cung cấp cho cơ quan quản lý thuế thông tin về khoản nợ hoặc khoản tiền, tài sản đang nắm giữ của người nộp thuế thuộc diện cưỡng chế, trong đó nêu rõ:
- Số tiền.
- Thời hạn thanh toán nợ.
- Loại tài sản.
- Số lượng tài sản.
- Tình trạng tài sản.
Trường hợp bên thứ ba không thực hiện quyết định cưỡng chế để nộp thay hoặc không chuyển giao tài sản thì bị xử lý theo khoản 4 Điều 46 Luật Quản lý thuế.
Khi bên thứ ba nắm giữ tài sản
- Bên thứ ba nắm giữ tài sản của người bị cưỡng chế, khác với trường hợp nắm giữ tiền hay có khoản nợ đến hạn, thì áp dụng biện pháp kê biên tài sản và bán đấu giá tài sản kê biên theo Điều 71 Nghị định 252/2026/NĐ-CP.
- Nếu tiền, tài sản đó là đối tượng của các giao dịch bảo đảm hoặc thuộc trường hợp giải quyết phá sản, việc thu tiền, tài sản từ bên thứ ba thực hiện theo thứ tự ưu tiên và quy định của pháp luật liên quan.
Xem thêm: Kê biên tài sản để cưỡng chế thuế và tài sản được loại trừ
Khi hai bên ở khác địa bàn
- Cùng địa bàn cấp tỉnh nhưng khác địa bàn cấp xã: Thuế tỉnh, thành phố hoặc Chi cục Hải quan chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan quản lý thuế cấp dưới phối hợp thực hiện.
- Khác địa bàn cấp tỉnh: cơ quan quản lý thuế của người nộp thuế bị cưỡng chế ban hành quyết định cưỡng chế, đồng thời gửi cơ quan quản lý thuế quản lý bên thứ ba để phối hợp.
Quyết định cưỡng chế được gửi cho ba nơi: người nộp thuế bị cưỡng chế, bên thứ ba đang nắm giữ tiền hoặc tài sản, và cơ quan quản lý thuế quản lý bên thứ ba.
Hỏi đáp
Công ty đang nợ tiền hàng nhà cung cấp bị cưỡng chế thuế thì phải làm gì?
Khi nhận quyết định cưỡng chế, nếu là khoản nợ đến hạn thì nộp thay ngay trong ngày khoản nợ đến hạn thanh toán. Nếu đang nắm giữ tiền của bên bị cưỡng chế thì nộp thay trong 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định.
Đã nhận văn bản xác minh nhưng chưa có quyết định cưỡng chế, có được trả tiền cho đối tác không?
Không. Kể từ thời điểm nhận được văn bản yêu cầu xác minh, bên thứ ba không được chuyển trả tiền, gồm cả khoản nợ phải thanh toán, và không được chuyển trả tài sản cho người bị cưỡng chế, cho đến khi nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chuyển giao tài sản theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế.
Nộp thay rồi thì công nợ với đối tác xử lý thế nào?
Số tiền bên thứ ba nộp vào ngân sách nhà nước thay cho người nộp thuế bị cưỡng chế được xác định là số tiền đã thanh toán cho người nộp thuế bị cưỡng chế. Kế toán ghi giảm công nợ phải trả, lưu quyết định cưỡng chế cùng giấy nộp tiền làm chứng từ.
Không nắm được thông tin cơ quan thuế hỏi thì làm sao?
Phải có văn bản giải trình gửi cơ quan quản lý thuế trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu.
Đang giữ hàng ký gửi của đơn vị bị cưỡng chế thì xử lý ra sao?
Trường hợp bên thứ ba nắm giữ tài sản, thay vì tiền hay khoản nợ đến hạn, thì áp dụng biện pháp kê biên tài sản và bán đấu giá tài sản kê biên theo Điều 71 Nghị định 252/2026/NĐ-CP.
Không thực hiện quyết định cưỡng chế thì bên thứ ba chịu hậu quả gì?
Trường hợp không nộp thay hoặc không chuyển giao tài sản, bên thứ ba bị xử lý theo khoản 4 Điều 46 Luật Quản lý thuế.
- Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế: Điều 70, Điều 71, hiệu lực từ 01/07/2026
- Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15: Điều 46

