Bài viết theo Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, các Điều 34, 35, 36 và 46
Chấm dứt hợp đồng lao động là lúc dễ phát sinh tranh chấp nhất. Ba câu phải trả lời đúng: chấm dứt theo trường hợp nào, phải báo trước bao lâu, và có phải trả trợ cấp thôi việc hay không.
Người lao động đơn phương chấm dứt: thời hạn báo trước
| Loại hợp đồng | Báo trước ít nhất |
|---|---|
| Không xác định thời hạn | 45 ngày |
| Xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng | 30 ngày |
| Xác định thời hạn dưới 12 tháng | 03 ngày làm việc |
| Một số ngành, nghề, công việc đặc thù | Theo quy định riêng của Chính phủ |
Bảy trường hợp được nghỉ ngay, không cần báo trước
- Không được bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc, hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn.
- Bị ngược đãi, đánh đập, hoặc bị có lời nói và hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động.
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Lao động.
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo Điều 169 Bộ luật Lao động, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo khoản 1 Điều 16 làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Quấy rối tình dục tại nơi làm việc vừa là căn cứ để người lao động nghỉ ngay, vừa là nội dung bắt buộc phải có trong nội quy lao động kèm trình tự thủ tục xử lý.
Doanh nghiệp chưa xây quy trình xử lý nội bộ thì khi có việc sẽ vừa mất người, vừa không có căn cứ để chứng minh mình đã làm đúng.
Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt
- Thường xuyên không hoàn thành công việc, xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp. Quy chế này do doanh nghiệp ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở nếu có.
- Ốm đau, tai nạn đã điều trị dài ngày mà khả năng lao động chưa hồi phục: 12 tháng liên tục với hợp đồng không xác định thời hạn, 06 tháng liên tục với hợp đồng 12 đến 36 tháng, quá nửa thời hạn hợp đồng với hợp đồng dưới 12 tháng. Khi sức khỏe bình phục thì doanh nghiệp xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng.
- Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, hoặc di dời, thu hẹp sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.
- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31.
- Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.
Trường hợp thứ nhất đáng lưu ý nhất với doanh nghiệp: muốn dùng lý do không hoàn thành công việc thì phải có sẵn quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc, ban hành đúng thủ tục. Thiếu quy chế thì lý do này không đứng được.
Trợ cấp thôi việc
Điều kiện: người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Mức: mỗi năm làm việc được nửa tháng tiền lương.
Trợ cấp thôi việc áp cho các trường hợp chấm dứt tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34. Hai ngoại lệ không được hưởng: người đủ điều kiện hưởng lương hưu theo pháp luật bảo hiểm xã hội, và trường hợp tại điểm e khoản 1 Điều 36.
Thời gian tính trợ cấp thôi việc bằng tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, và trừ đi thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm.
Người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp suốt quá trình làm việc thì phần còn lại để tính trợ cấp thôi việc thường bằng không. Trợ cấp thôi việc chủ yếu còn ý nghĩa với quãng thời gian trước khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
Mười một trường hợp chấm dứt hợp đồng
Điều 34 liệt kê đủ các tình huống, từ hết hạn hợp đồng, hoàn thành công việc, hai bên thỏa thuận, cho tới bị kết án phạt tù, bị trục xuất, người lao động chết, người sử dụng lao động chấm dứt hoạt động, bị sa thải, và hai bên đơn phương chấm dứt. Xác định đúng khoản nào của Điều 34 là bước đầu tiên, vì nó quyết định có trợ cấp thôi việc hay không.
Việc nên chuẩn bị trước
- Ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc, có tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động nếu có.
- Ghi đủ nội dung phòng chống quấy rối tình dục và trình tự xử lý vào nội quy lao động.
- Với mỗi lần chấm dứt, xác định rõ đang theo khoản nào của Điều 34 và ghi vào quyết định.
- Tính thời gian làm việc thực tế rồi trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, để biết có phát sinh trợ cấp thôi việc hay không.
- Lấy tiền lương bình quân 06 tháng liền kề theo hợp đồng làm căn cứ tính trợ cấp.
- Trước khi chốt sổ, kiểm tra đã đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp tới tháng cuối cùng, vì đóng thiếu thì doanh nghiệp phải trả thay phần chế độ người lao động mất.
Phép trừ thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dễ tính sai nhất khi làm hồ sơ thôi việc. Phần mềm kế toán VFRS lưu quá trình đóng theo từng người và tính sẵn phần thời gian còn lại, xem tại <a href=”https://app.vfrs.vn” target=”_blank” rel=”noopener”>app.vfrs.vn.
Xem thêm: Bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm mới: mức đóng, điều kiện và mức hưởng
Nghỉ việc theo hợp đồng không xác định thời hạn phải báo trước bao lâu?
Ít nhất 45 ngày, theo điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14. Hợp đồng xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng thì 30 ngày, dưới 12 tháng thì 03 ngày làm việc.
Bị nợ lương thì có được nghỉ ngay không?
Được. Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn là một trong bảy trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước, theo khoản 2 Điều 35.
Làm 5 năm rồi nghỉ thì được trợ cấp thôi việc bao nhiêu?
Tùy phần thời gian còn lại sau khi trừ. Mức là mỗi năm làm việc được nửa tháng tiền lương, nhưng thời gian tính trợ cấp bằng tổng thời gian làm việc thực tế trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp. Người đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp suốt 5 năm thì phần còn lại thường bằng không.
Muốn cho nghỉ vì không hoàn thành công việc thì cần gì?
Cần quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do doanh nghiệp ban hành, và quy chế đó phải được tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở nếu nơi đó có tổ chức này.
Tiền lương tính trợ cấp thôi việc lấy tháng nào?
Tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc, theo khoản 3 Điều 46.
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, các Điều 16, 29, 31, 34, 35, 36, 46, 97, 138 và 169
- Luật Việc làm số 74/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/01/2026, về bảo hiểm thất nghiệp
- Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Điều 46 Bộ luật Lao động về trợ cấp thôi việc