Bài viết theo Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15
Người nộp thuế giá trị gia tăng rộng hơn nhóm doanh nghiệp bán hàng. Bên mua cũng có thể trở thành người nộp thuế, chẳng hạn khi mua dịch vụ của một nhà cung cấp nước ngoài.
Sáu nhóm người nộp thuế
1. Cơ sở kinh doanh
Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Đây là nhóm đông nhất, luật gọi chung là cơ sở kinh doanh.
2. Người nhập khẩu
Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng.
3. Bên Việt Nam mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ, kể cả dịch vụ gắn với hàng hóa, của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú. Trừ các trường hợp thuộc nhóm 4 và nhóm 5.
- Tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú hoặc cá nhân nước ngoài không cư trú.
Doanh nghiệp mua dịch vụ quảng cáo, phần mềm, lưu trữ dữ liệu của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì chính mình là người nộp thuế giá trị gia tăng cho giao dịch đó.
Đây là chỗ nhiều doanh nghiệp bỏ sót, vì không thấy hóa đơn giá trị gia tăng của Việt Nam nên nghĩ giao dịch nằm ngoài thuế.
4. Nhà cung cấp nước ngoài và bên khấu trừ nộp thay
- Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử hoặc kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.
- Tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế của nhà cung cấp nước ngoài.
- Tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số, thực hiện khấu trừ và nộp thay nghĩa vụ thuế của nhà cung cấp nước ngoài.
5. Sàn thương mại điện tử và nền tảng số có chức năng thanh toán
Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay và kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.
Bảng tra nhanh
| Tình huống | Ai là người nộp thuế |
|---|---|
| Doanh nghiệp bán hàng hóa, dịch vụ trong nước | Chính doanh nghiệp đó |
| Nhập khẩu hàng hóa chịu thuế | Người nhập khẩu |
| Mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú, ngoài kênh thương mại điện tử | Bên mua tại Việt Nam |
| Mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài qua kênh thương mại điện tử hoặc nền tảng số, bên mua nộp thuế theo phương pháp khấu trừ | Bên mua khấu trừ và nộp thay cho nhà cung cấp nước ngoài |
| Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng trên sàn có chức năng thanh toán | Nhà quản lý sàn khấu trừ, nộp thay và kê khai |
| Nhà cung cấp nước ngoài bán trực tiếp cho người tiêu dùng Việt Nam | Nhà cung cấp nước ngoài, hoặc nhà quản lý nền tảng số nước ngoài nộp thay |
Việc cần rà ở doanh nghiệp
- Lập danh sách các nhà cung cấp nước ngoài đang dùng, tách riêng bên có và bên không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
- Với từng giao dịch mua dịch vụ nước ngoài, xác định mình thuộc nhóm tự nộp hay nhóm khấu trừ nộp thay.
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán trên sàn thì đối chiếu số thuế sàn đã khấu trừ với doanh thu của mình.
- Ghi nhận khoản thuế phải nộp thay ngay khi thanh toán cho bên nước ngoài, tránh dồn tới cuối kỳ.
- Lưu hợp đồng và chứng từ thanh toán quốc tế làm căn cứ xác định nghĩa vụ.
Nghĩa vụ nộp thay phát sinh ngay khi thanh toán cho bên nước ngoài, ghi sổ chậm là dễ quá hạn. Phần mềm kế toán VFRS gắn nghĩa vụ nộp thay vào bút toán thanh toán, xem tại <a href=”https://app.vfrs.vn” target=”_blank” rel=”noopener”>app.vfrs.vn.
Xem thêm: Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: khấu trừ và trực tiếp
Ai là người nộp thuế giá trị gia tăng?
Sáu nhóm theo Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15: cơ sở kinh doanh; người nhập khẩu; bên Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú và cá nhân nước ngoài không cư trú; nhà cung cấp nước ngoài kinh doanh thương mại điện tử và nền tảng số; nhà quản lý nền tảng số nước ngoài nộp thay; nhà quản lý sàn thương mại điện tử và nền tảng số có chức năng thanh toán khấu trừ nộp thay cho hộ và cá nhân kinh doanh.
Mua phần mềm của công ty nước ngoài có phải nộp thuế giá trị gia tăng không?
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thuộc nhóm người nộp thuế giá trị gia tăng, trừ các trường hợp mua qua kênh thương mại điện tử và nền tảng số đã có bên khác khấu trừ nộp thay.
Bán hàng trên sàn thương mại điện tử thì ai nộp thuế?
Nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử và nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay và kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn.
Cá nhân nhập khẩu hàng có phải nộp thuế giá trị gia tăng không?
Có. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng đều là người nộp thuế, theo khoản 2 Điều 4.
Doanh nghiệp mua dịch vụ để thăm dò dầu khí của bên nước ngoài thì sao?
Tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú hoặc cá nhân nước ngoài không cư trú là người nộp thuế cho giao dịch đó.
- Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, Điều 4 về người nộp thuế
- Luật số 09/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế, các Điều 43 đến 46, hiệu lực từ ngày 01/7/2026