02/09/2026
Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quyết định số tiền lương hưu và các khoản trợ cấp một lần. Cách tính khác nhau giữa người hưởng lương do Nhà nước quy định và người hưởng lương do doanh nghiệp quyết định, trong đó nhóm thứ nhất còn chia theo năm bắt đầu tham gia.
- Người hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định tính bình quân toàn bộ thời gian đóng.
- Người hưởng lương do Nhà nước quy định tính bình quân số năm cuối, số năm này phụ thuộc năm bắt đầu tham gia.
- Người bắt đầu tham gia từ ngày 01/01/2025 trở đi tính bình quân toàn bộ thời gian đóng.
- Tiền lương đưa vào công thức là tiền lương đã được điều chỉnh theo Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội.
- Người có cả hai loại thời gian thì cộng hai phần rồi chia tổng số tháng đóng.
Người hưởng lương do Nhà nước quy định
Với người có toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, mức bình quân lấy theo số năm cuối trước khi nghỉ hưu. Số năm cuối được xác định theo mốc bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội.
| Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội | Số năm cuối để tính bình quân |
|---|---|
| Trước ngày 01/01/1995 | 5 năm, tương ứng 60 tháng |
| Từ 01/01/1995 đến 31/12/2000 | 6 năm, tương ứng 72 tháng |
| Từ 01/01/2001 đến 31/12/2006 | 8 năm, tương ứng 96 tháng |
| Từ 01/01/2007 đến 31/12/2015 | 10 năm, tương ứng 120 tháng |
| Từ 01/01/2016 đến 31/12/2019 | 15 năm, tương ứng 180 tháng |
| Từ 01/01/2020 đến 31/12/2024 | 20 năm, tương ứng 240 tháng |
| Từ 01/01/2025 trở đi | Toàn bộ thời gian đóng |
Mức bình quân tiền lương = Tổng tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của số năm cuối tương ứng chia cho Số tháng của số năm đó.
Người hưởng lương do doanh nghiệp quyết định
Mức bình quân tiền lương = Tổng tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đóng chia cho Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Nhóm này tính bình quân toàn bộ quá trình đóng, không phân biệt năm bắt đầu tham gia. Đây là cách tính áp dụng cho phần lớn người lao động khu vực doanh nghiệp.
Tiền lương đưa vào tử số là tiền lương đã được điều chỉnh theo Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội, không phải số danh nghĩa ghi trên sổ của từng năm. Người lao động khi tự ước tính lương hưu thường bỏ qua bước này và ra kết quả thấp hơn thực tế.
Vừa có thời gian Nhà nước vừa có thời gian doanh nghiệp
Mức bình quân tiền lương = (Tổng tiền lương của thời gian theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định cộng Tổng tiền lương của các tháng đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định) chia cho Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.
- Phần tiền lương của thời gian theo chế độ Nhà nước bằng tổng số tháng đóng theo chế độ này nhân với mức bình quân tiền lương của chính thời gian đó, tính theo bảng mốc năm ở trên.
- Người có từ 02 giai đoạn trở lên thuộc chế độ tiền lương do Nhà nước quy định vẫn tính theo cách này.
- Số năm cuối là số năm gần nhất đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định trước thời điểm nghỉ hưu.
- Tổng số tháng đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định là tổng các tháng của tất cả các giai đoạn.
Xem thêm: Chế độ hưu trí: điều kiện, mức lương hưu và trợ cấp một lần
Mức bình quân này dùng để tính gì
- Lương hưu hằng tháng.
- Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu.
- Bảo hiểm xã hội một lần.
- Trợ cấp tuất một lần.
Hỏi đáp
Người làm ở doanh nghiệp tính bình quân mấy năm cuối?
Không tính theo số năm cuối. Người có toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tính bình quân của toàn bộ các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.
Công chức vào biên chế năm 2010 thì lấy bình quân bao nhiêu năm cuối?
Người bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng từ 01/01/2007 đến 31/12/2015 tính bình quân tiền lương của 10 năm cuối, tương ứng 120 tháng trước khi nghỉ hưu.
Người bắt đầu tham gia từ năm 2025 tính thế nào?
Tính bình quân toàn bộ thời gian đóng, lấy tổng tiền lương làm căn cứ đóng của toàn bộ thời gian chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Có cả thời gian làm nhà nước và thời gian làm công ty thì tính ra sao?
Cộng tổng tiền lương của hai phần rồi chia cho tổng số tháng đóng. Phần thuộc chế độ tiền lương do Nhà nước quy định tính bằng số tháng của phần đó nhân với mức bình quân tiền lương của chính thời gian đó, xác định theo bảng mốc năm bắt đầu tham gia.
Tiền lương đưa vào công thức có phải số ghi trên sổ không?
Là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đã được điều chỉnh theo Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội, không phải số danh nghĩa của từng năm.
Có hai giai đoạn làm nhà nước cách nhau thì lấy giai đoạn nào?
Vẫn tính theo cùng cách, trong đó số năm cuối là số năm gần nhất đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định trước thời điểm nghỉ hưu, còn tổng số tháng là tổng các tháng của tất cả các giai đoạn.
- Thông tư 12/2025/TT-BNV hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc: Điều 16, hiệu lực từ 01/07/2025
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15: Điều 72, Điều 73
- Nghị định 158/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc: Điều 15

