02/09/2026
Một doanh nghiệp nước ngoài ký hợp đồng với công ty Việt Nam, cử người sang làm việc vài tháng. Kế toán bên Việt Nam phải trả lời một câu trước khi tính thuế nhà thầu: bên kia có cơ sở thường trú tại Việt Nam hay không. Trả lời sai thì khấu trừ sai, và phần chênh lệch thường bị truy thu kèm tiền chậm nộp.
- Cơ sở thường trú quyết định doanh nghiệp nước ngoài nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trên phạm vi nào tại Việt Nam.
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 liệt kê 6 nhóm tại khoản 3 Điều 2.
- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đặt thêm 3 điều kiện đồng thời, hướng dẫn tại Thông tư 95/2026/TT-BTC hiệu lực từ 01/07/2026.
- Nền tảng thương mại điện tử và nền tảng số nay được xếp là cơ sở thường trú.
- Kho chỉ để lưu giữ, trưng bày hoặc thu thập thông tin thì không tạo thành cơ sở thường trú.
Cơ sở thường trú là gì
Khoản 3 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 định nghĩa cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Luật liệt kê sáu nhóm:
- Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, mỏ dầu, mỏ khí, mỏ hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;
- Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
- Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hoặc tổ chức, cá nhân khác;
- Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;
- Đại diện tại Việt Nam có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài, hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết nhưng thường xuyên giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam;
- Nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số mà thông qua đó doanh nghiệp nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam.
Nhóm thứ sáu là quy định mới. Trước đây một sàn thương mại điện tử ở nước ngoài bán hàng vào Việt Nam khó bị coi là có cơ sở thường trú vì không có văn phòng hay nhà xưởng. Từ Luật 67/2025/QH15, chính nền tảng đó được xếp là cơ sở thường trú.
Có hay không có cơ sở thường trú thì khác nhau chỗ nào
Điều 2 Nghị định 320/2025/NĐ-CP tách người nộp thuế là doanh nghiệp nước ngoài thành các nhóm với phạm vi nộp thuế khác nhau. Bảng dưới tóm tắt:
| Trường hợp | Phạm vi thu nhập phải nộp thuế tại Việt Nam |
|---|---|
| Có cơ sở thường trú, thu nhập liên quan đến cơ sở đó | Thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú |
| Có cơ sở thường trú, thu nhập không liên quan đến cơ sở đó | Thu nhập phát sinh tại Việt Nam |
| Không có cơ sở thường trú | Thu nhập phát sinh tại Việt Nam |
| Có cơ sở thường trú, kinh doanh thương mại điện tử hoặc trên nền tảng số | Thu nhập phát sinh tại Việt Nam |
Khác biệt lớn nhất nằm ở dòng đầu. Khi doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú và khoản thu nhập gắn với hoạt động của cơ sở đó, Việt Nam đánh thuế cả phần thu nhập phát sinh ở nước ngoài liên quan đến cơ sở này. Các trường hợp còn lại chỉ đánh thuế phần phát sinh trong nước.
Ba điều kiện theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Khi doanh nghiệp nước ngoài là đối tượng cư trú của nước đã ký Hiệp định thuế với Việt Nam, khoản 2 Điều 14 Thông tư 95/2026/TT-BTC đặt ra định nghĩa riêng. Doanh nghiệp được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam khi thỏa mãn đồng thời ba điều kiện:
- Duy trì tại Việt Nam một cơ sở như tòa nhà, văn phòng hoặc một phần của tòa nhà, một phương tiện hoặc thiết bị. Cơ sở đó có thể do doanh nghiệp sở hữu, thuê, hoặc chỉ cần có quyền sử dụng trên thực tế;
- Cơ sở có tính chất cố định, tức được thiết lập tại một địa điểm xác định hoặc được duy trì thường xuyên;
- Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở này.
Điều kiện thứ nhất rộng hơn nhiều người tưởng. Không cần đứng tên trên hợp đồng thuê, chỉ cần thực tế được dùng để kinh doanh là đủ. Điều kiện thứ hai cũng không đòi hỏi cơ sở phải gắn với một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định.
Những trường hợp thường bị bỏ sót
Công trình xây dựng, lắp đặt
Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp và cả hoạt động giám sát các công trình đó tạo thành cơ sở thường trú nếu kéo dài quá khoảng thời gian quy định tại từng Hiệp định thuế cụ thể. Mỗi Hiệp định đặt một mốc riêng, nên phải mở đúng Hiệp định với nước của nhà thầu.
Cách đếm thời gian là chỗ dễ tính thiếu. Thời gian tính từ ngày nhà thầu bắt đầu công việc chuẩn bị cho công trình tại Việt Nam, chẳng hạn lập văn phòng xây dựng kế hoạch thi công, cho đến khi công trình hoàn thiện và bàn giao toàn bộ. Thời gian công trình bị gián đoạn vì bất kỳ nguyên nhân nào vẫn được tính vào.
Với nhà thầu chính, thời gian thực hiện công trình bao gồm tổng thời gian thực hiện các phần hợp đồng của các nhà thầu phụ cộng với thời gian của chính nhà thầu chính. Nhà thầu phụ của Bên ký kết cũng được coi là có cơ sở thường trú nếu thỏa mãn ba điều kiện nêu trên.
Cung cấp dịch vụ quá 183 ngày
Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ, kể cả dịch vụ tư vấn, tại Việt Nam thông qua nhân viên hoặc một đối tượng khác được coi là có cơ sở thường trú nếu hoạt động đó trong một dự án hoặc các dự án có liên quan kéo dài quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng. Các khoảng thời gian rời rạc được cộng gộp.
Dưới 183 ngày vẫn có thể hình thành cơ sở thường trú. Thông tư 95/2026/TT-BTC nêu rõ trường hợp cung cấp dịch vụ không quá 183 ngày nhưng vẫn thỏa mãn ba điều kiện thì việc cung cấp dịch vụ đó được coi là có một cơ sở thường trú tại Việt Nam. Mốc 183 ngày là một cửa vào, còn ba điều kiện là cửa còn lại.
Đại lý và người được ủy quyền
Doanh nghiệp nước ngoài có tại Việt Nam một đại lý môi giới, đại lý hoa hồng hoặc đại lý khác dành toàn bộ hoặc phần lớn hoạt động cho doanh nghiệp đó thì đại lý phụ thuộc này tạo thành cơ sở thường trú.
Việc ủy quyền cũng vậy, trong hai tình huống: người được ủy quyền có thẩm quyền thường xuyên thương lượng, ký hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc ký hợp đồng mang tên mình nhưng ràng buộc nghĩa vụ của doanh nghiệp đó; hoặc người được ủy quyền không có thẩm quyền ký nhưng thường xuyên đại diện cho doanh nghiệp giao hàng hóa tại Việt Nam.
Bốn trường hợp không tạo thành cơ sở thường trú
Điểm c khoản 2 Điều 14 Thông tư 95/2026/TT-BTC liệt kê các trường hợp doanh nghiệp nước ngoài được coi là không có cơ sở thường trú:
| Trường hợp | Điều kiện đi kèm |
|---|---|
| Sử dụng phương tiện | Chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hàng hóa của doanh nghiệp |
| Có kho hàng hóa tại Việt Nam | Chỉ nhằm lưu kho, trưng bày, hoặc để một doanh nghiệp khác gia công |
| Có cơ sở kinh doanh cố định | Chỉ nhằm mua hàng hóa hoặc thu thập thông tin cho doanh nghiệp |
| Có cơ sở kinh doanh cố định | Chỉ nhằm tiến hành hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ |
Chữ chỉ ở mỗi dòng mang tính quyết định. Một kho hàng dùng để lưu giữ nằm ngoài phạm vi cơ sở thường trú, nhưng nếu kho đó kiêm luôn việc giao hàng theo hợp đồng thì tính chất đã đổi. Ranh giới nằm ở chỗ hoạt động tại cơ sở có phải là một phần của hoạt động kinh doanh sinh lợi hay không.
Công ty mẹ ở nước ngoài và công ty con tại Việt Nam
Điểm d khoản 2 Điều 14 Thông tư 95/2026/TT-BTC nêu nguyên tắc: quan hệ kiểm soát giữa hai công ty tự nó không làm công ty nào trở thành cơ sở thường trú của công ty kia. Việc công ty mẹ ở nước ngoài sở hữu một công ty con tại Việt Nam là quan hệ góp vốn, không phải quan hệ cơ sở thường trú.
Nguyên tắc này có ngoại lệ. Công ty nước ngoài góp vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, kể cả doanh nghiệp chế xuất, sẽ được coi là có cơ sở thường trú nếu doanh nghiệp Việt Nam đó thường xuyên thương lượng, ký hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài, hoặc ký hợp đồng đứng tên mình nhưng ràng buộc nghĩa vụ của công ty nước ngoài, hoặc thường xuyên đại diện cho công ty nước ngoài giao hàng hóa.
Nhiều tập đoàn để công ty con tại Việt Nam đứng ra ký hợp đồng với khách hàng trong nước nhưng hàng do công ty mẹ giao thẳng và ràng buộc trách nhiệm của công ty mẹ. Cách làm này rơi đúng vào ngoại lệ trên, và công ty mẹ bị coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú thì có phải nộp thuế tại Việt Nam không?
Có. Điểm b khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 quy định doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, bao gồm cả doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử và kinh doanh dựa trên nền tảng số, nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam. Khác biệt nằm ở phạm vi thu nhập bị đánh thuế, không phải ở việc có nộp hay không.
Cử chuyên gia sang Việt Nam làm việc 5 tháng thì có tạo cơ sở thường trú không?
Năm tháng khoảng 150 ngày, dưới mốc 183 ngày trong 12 tháng. Nhưng vẫn phải kiểm tra ba điều kiện tại điểm a khoản 2 Điều 14 Thông tư 95/2026/TT-BTC. Nếu chuyên gia làm việc tại một văn phòng cố định mà doanh nghiệp có quyền sử dụng thực tế và hoạt động đó là một phần hoạt động kinh doanh, thì vẫn hình thành cơ sở thường trú dù chưa tới 183 ngày.
Văn phòng đại diện có phải là cơ sở thường trú không?
Tùy hoạt động thực tế. Văn phòng đại diện chỉ làm việc liên lạc, xúc tiến, thu thập thông tin nằm trong nhóm hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ tại điểm c khoản 2 Điều 14 Thông tư 95/2026/TT-BTC nên không tạo thành cơ sở thường trú. Ngay tại điểm b.1 cùng điều khoản, văn phòng đại diện thương mại có thương lượng, ký kết hợp đồng thương mại lại được liệt kê là cơ sở thường trú.
Công trình xây dựng bị dừng thi công 4 tháng thì có trừ ra khi tính thời gian không?
Không trừ. Điểm b.2 khoản 2 Điều 14 Thông tư 95/2026/TT-BTC quy định thời gian tính từ ngày nhà thầu bắt đầu công việc chuẩn bị đến khi công trình hoàn thiện, bàn giao toàn bộ, kể cả thời gian công trình bị gián đoạn do mọi nguyên nhân.
Xác định sai cơ sở thường trú thì hậu quả thế nào?
Bên Việt Nam khấu trừ và nộp thay theo mức không đúng. Phần thiếu bị truy thu kèm tiền chậm nộp, và nếu khoản thuế nhà thầu đã tính vào chi phí thì phần chênh lệch còn kéo theo điều chỉnh chi phí được trừ khi quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15, Điều 2
- Nghị định 320/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Điều 2
- Thông tư 95/2026/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Điều 14 (hiệu lực từ 01/07/2026)

