Bài viết theo Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi số 51/2024/QH15, Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13
Một người ký hợp đồng lao động với hai công ty là chuyện hợp pháp và khá phổ biến. Rắc rối nằm ở chỗ bốn loại bảo hiểm áp bốn quy tắc khác nhau, và một trong bốn quy tắc vừa đổi từ ngày 01/07/2025 mà nhiều nơi vẫn làm theo cách cũ.
- Người lao động được giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động.
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc đóng theo hợp đồng giao kết đầu tiên.
- Bảo hiểm y tế đóng theo hợp đồng làm căn cứ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, tức cũng là hợp đồng đầu tiên.
- Bảo hiểm thất nghiệp tham gia cùng với bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đóng theo từng hợp đồng, mọi nơi đều phải đóng.
- Quy tắc bảo hiểm y tế theo hợp đồng có mức lương cao nhất đã hết hiệu lực từ 01/07/2025.
- Hợp đồng đang làm căn cứ đóng mà tạm hoãn và hai bên không thỏa thuận đóng thì chuyển sang hợp đồng có hiệu lực kế tiếp.
Bốn loại bảo hiểm, bốn quy tắc
| Loại bảo hiểm | Đóng ở đâu | Căn cứ |
|---|---|---|
| Bảo hiểm xã hội bắt buộc | Theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên | Điểm a khoản 5 Điều 2 Luật BHXH 41/2024 |
| Bảo hiểm y tế | Theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc | Điểm b khoản 5 Điều 13 Luật BHYT, sửa đổi bởi Luật 51/2024 |
| Bảo hiểm thất nghiệp | Tham gia cùng với việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc | Khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm 74/2025 |
| Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp | Từng hợp đồng, mỗi nơi sử dụng lao động đều đóng | Khoản 2 Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động 84/2015 |
Ba dòng đầu quy về một nơi, dòng cuối trải ra mọi nơi. Lý do của dòng cuối nằm ở bản chất rủi ro: người lao động có thể gặp tai nạn tại bất kỳ nơi làm việc nào, nên mỗi người sử dụng lao động phải góp vào quỹ cho phần thời gian người đó làm cho mình.
Quy tắc bảo hiểm y tế đã đổi từ 01/07/2025
Đây là điểm nhiều bộ phận nhân sự còn làm theo văn bản cũ. Hai bản quy định như sau.
| Thời kỳ | Quy tắc đóng bảo hiểm y tế khi có nhiều hợp đồng | Văn bản |
|---|---|---|
| Đến 30/06/2025 | Theo hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất | Khoản 2 Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 |
| Từ 01/07/2025 | Theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc | Điểm b khoản 5 Điều 13, sửa đổi bởi Luật số 51/2024/QH15 |
Ông A ký hợp đồng với công ty X từ tháng 3, lương 12 triệu; tháng 9 ký thêm với công ty Y, lương 25 triệu.
Theo quy tắc cũ, bảo hiểm y tế của ông A đóng ở công ty Y trên nền 25 triệu. Theo quy tắc hiện hành, bảo hiểm y tế đóng ở công ty X, cùng chỗ với bảo hiểm xã hội, trên nền 12 triệu.
Doanh nghiệp vẫn kê khai theo cách cũ sẽ thấy hồ sơ bị cơ quan bảo hiểm xã hội trả về, và trong thời gian chờ xử lý người lao động có thể gặp trục trặc khi đi khám chữa bệnh.
Cách ghi nhớ gọn: từ 01/07/2025, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp đi chung một hợp đồng, và hợp đồng đó là hợp đồng giao kết đầu tiên.
Khi hợp đồng đầu tiên tạm hoãn
Điểm a khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 xử lý tiếp tình huống hợp đồng đang làm căn cứ đóng bị tạm hoãn. Nếu hai bên không có thỏa thuận về việc vẫn đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian tạm hoãn thì việc tham gia chuyển sang hợp đồng kế tiếp theo thứ tự về thời gian có hiệu lực của các hợp đồng đã ký.
Thứ tự ở đây là thời gian có hiệu lực của hợp đồng, một mốc có thể khác ngày ký. Doanh nghiệp lưu hồ sơ nên ghi cả hai mốc để khi cần chứng minh thứ tự thì có căn cứ.
Nếu hai bên có thỏa thuận vẫn đóng trong thời gian tạm hoãn thì hợp đồng đó giữ nguyên vai trò làm căn cứ, không phải chuyển sang nơi khác rồi sau này chuyển ngược lại.
Nghĩa vụ của nơi làm việc thứ hai
Công ty Y trong ví dụ trên vẫn phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo hợp đồng đã ký với ông A, tính trên tiền lương làm căn cứ đóng tại công ty mình. Đây là nghĩa vụ độc lập, không phụ thuộc việc ông A đã đóng bảo hiểm xã hội ở công ty X.
Về ba khoản còn lại, khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động quy định với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thì người sử dụng lao động phải chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương mức mà mình phải đóng theo quy định.
Người làm ở hai nơi vẫn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, chỉ là đã tham gia qua hợp đồng đầu tiên. Chữ nghĩa của khoản 3 Điều 168 không phủ hoàn toàn tình huống này.
Thực tế nhiều doanh nghiệp áp dụng cách chi trả thêm vào lương cho phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp mà mình không đóng.
Trước khi chốt chính sách cho cả loạt người lao động, doanh nghiệp nên có văn bản hỏi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi quản lý và lưu lại trả lời, vì đây là khoản tiền lặp lại hằng tháng và ảnh hưởng cả chi phí được trừ khi tính thuế.
Điều kiện đi kèm quyền ký nhiều nơi
Khoản 1 Điều 19 Bộ luật Lao động cho phép giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, kèm một điều kiện: phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.
- Bảo đảm thời giờ làm việc ở nơi này không cản trở việc thực hiện hợp đồng ở nơi kia.
- Tuân thủ điều khoản về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ nếu hợp đồng có thỏa thuận.
- Cung cấp thông tin trung thực khi giao kết, theo khoản 2 Điều 16.
- Với công việc thuộc diện phải khai báo hoặc bị hạn chế kiêm nhiệm theo pháp luật chuyên ngành, kiểm tra quy định ngành trước khi ký.
Việc của bộ phận nhân sự
- Khi tuyển người, hỏi rõ và ghi lại đã có hợp đồng lao động nơi khác hay chưa, kèm ngày có hiệu lực.
- Xác định mình là nơi thứ nhất hay thứ hai để biết phải đóng đủ bốn loại hay chỉ đóng tai nạn lao động.
- Rà lại các trường hợp đang đóng bảo hiểm y tế theo hợp đồng lương cao nhất, chuyển về đúng quy tắc hiện hành.
- Theo dõi các hợp đồng đang tạm hoãn ở nơi khác, vì việc đó có thể làm mình trở thành nơi phải đóng.
- Ghi rõ trong quy chế cách xử lý khoản chi trả thêm cho người đã đóng bảo hiểm ở nơi khác.
Làm hai nơi thì đóng bảo hiểm xã hội ở cả hai nơi phải không?
Không. Điểm a khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 quy định người giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên. Riêng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì mọi nơi đều phải đóng.
Bảo hiểm y tế đóng theo nơi có lương cao hơn phải không?
Đó là quy tắc của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13, áp dụng đến hết ngày 30/06/2025. Từ 01/07/2025, điểm b khoản 5 Điều 13 do Luật số 51/2024/QH15 sửa đổi quy định đóng bảo hiểm y tế theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, tức hợp đồng giao kết đầu tiên.
Công ty thứ hai có phải đóng gì không?
Có. Khoản 2 Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 buộc người sử dụng lao động đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết, nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khi xảy ra tai nạn, chế độ được giải quyết theo nguyên tắc đóng và hưởng do Chính phủ quy định.
Hợp đồng đầu tiên tạm hoãn thì chuyển nơi đóng bảo hiểm ra sao?
Nếu hai bên không thỏa thuận về việc vẫn đóng trong thời gian tạm hoãn thì tham gia theo thứ tự về thời gian có hiệu lực của các hợp đồng đã ký, tức hợp đồng có hiệu lực kế tiếp trở thành căn cứ. Có thỏa thuận vẫn đóng thì hợp đồng đầu tiên giữ nguyên vai trò.
Nơi không đóng bảo hiểm có phải trả thêm tiền vào lương không?
Khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động đặt nghĩa vụ chi trả thêm cho người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Người làm nhiều nơi vẫn thuộc đối tượng tham gia, chỉ là tham gia qua hợp đồng đầu tiên, nên phạm vi điều khoản này còn cách hiểu khác nhau. Doanh nghiệp nên hỏi văn bản cơ quan bảo hiểm xã hội nơi quản lý trước khi áp cho cả loạt người lao động.
Ký hợp đồng nơi thứ hai có cần xin phép nơi thứ nhất không?
Bộ luật Lao động không đặt yêu cầu xin phép. Khoản 1 Điều 19 chỉ buộc người lao động bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết. Nếu hợp đồng ở nơi thứ nhất có thỏa thuận riêng về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ hoặc về thời giờ làm việc thì phải tuân thủ các thỏa thuận đó.
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Điều 16, Điều 19, Điều 168
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, điểm a khoản 5 Điều 2
- Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12, Điều 13, sửa đổi bởi Luật số 51/2024/QH15
- Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13, khoản 2 Điều 13 (quy tắc cũ, áp dụng đến 30/06/2025)
- Luật Việc làm số 74/2025/QH15, khoản 1 Điều 31
- Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13, khoản 2 Điều 43
Xem thêm: Tỷ lệ trích các khoản bảo hiểm và kinh phí công đoàn

