Cập nhật theo Bộ luật Lao động 45/2019/QH14 và Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15
Khi cần thuê người làm việc ngắn hạn, doanh nghiệp hay tìm một loại hợp đồng nhẹ nghĩa vụ hơn hợp đồng lao động: hợp đồng thời vụ, hợp đồng giao khoán, hợp đồng cộng tác viên. Cách đặt tên này không còn tác dụng như trước, vì cả pháp luật lao động lẫn pháp luật bảo hiểm xã hội hiện hành đều xác định quan hệ theo nội dung thực tế của công việc. Tên gọi trên bìa hợp đồng nay hết giá trị quyết định.
Chỉ còn hai loại hợp đồng lao động
Tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, hiệu lực từ ngày 01/01/2021, hợp đồng lao động (HĐLĐ) phải được giao kết theo một trong hai loại: HĐLĐ không xác định thời hạn, là hợp đồng mà hai bên không xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực; và HĐLĐ xác định thời hạn, là hợp đồng mà hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực.
Danh sách này khép kín. Không có loại hợp đồng lao động theo mùa vụ hay theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Công việc ngắn hạn nay ký HĐLĐ xác định thời hạn với thời hạn tương ứng, chẳng hạn hai tháng hoặc ba tháng.
Tại khoản 2 Điều 20, khi HĐLĐ xác định thời hạn hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong 30 ngày hai bên phải ký hợp đồng mới; quá 30 ngày không ký thì hợp đồng cũ trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn. Nếu ký hợp đồng mới cũng là loại xác định thời hạn thì chỉ được ký thêm một lần, sau đó phải ký HĐLĐ không xác định thời hạn.
Ba dấu hiệu khiến hợp đồng mang tên khác vẫn là hợp đồng lao động
Tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
- Có việc làm mà một bên phải thực hiện.
- Có trả công, tiền lương cho việc làm đó.
- Có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên đối với bên kia.
Dấu hiệu thứ ba là chỗ phân định. Một người nhận khoán trọn gói, tự quyết cách làm, tự lo phương tiện, chỉ chịu trách nhiệm về kết quả bàn giao thì quan hệ đó mang bản chất dịch vụ. Ngược lại, người phải có mặt theo giờ quy định, chịu sự phân công hằng ngày, làm theo quy trình và bị đánh giá như nhân viên thì dù hợp đồng ghi là cộng tác viên vẫn có đủ ba dấu hiệu của HĐLĐ.
Tại điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.
Điều luật viết thẳng cụm tên gọi khác vào phạm vi đối tượng, nên việc đặt tên hợp đồng là giao khoán hay cộng tác viên không làm mất nghĩa vụ đóng bảo hiểm.
Hình thức giao kết
Tại Điều 14 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, HĐLĐ phải được giao kết bằng văn bản, làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Hợp đồng giao kết qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng bằng văn bản.
Hai bên chỉ được giao kết bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, và ngay cả khoảng này cũng có ngoại lệ bắt buộc phải bằng văn bản, gồm trường hợp giao kết với nhóm người lao động thông qua người được ủy quyền, trường hợp người chưa đủ 15 tuổi và trường hợp lao động là người giúp việc gia đình.
Mười nội dung chủ yếu phải có trong hợp đồng
Bỏ loại hợp đồng mùa vụ nghĩa là doanh nghiệp phải soạn lại biểu mẫu đang dùng. Tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu sau, thiếu một mục là hợp đồng chưa đầy đủ theo luật:
- Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng bên phía người sử dụng lao động.
- Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng bên phía người lao động.
- Công việc và địa điểm làm việc.
- Thời hạn của hợp đồng lao động.
- Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
- Chế độ nâng bậc, nâng lương.
- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.
- Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động.
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.
Mục về mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác là mục kế toán cần soát kỹ nhất, vì đây chính là ba cấu phần dùng để xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ghi chung chung ở hợp đồng thì về sau không có căn cứ để giải trình khoản nào thuộc căn cứ đóng, khoản nào không.
Với người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tại khoản 3 Điều 21 hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết khi việc thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hỏa hoạn, thời tiết.
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 21, khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm.
Việc nên rà lại
Doanh nghiệp đang dùng mẫu hợp đồng thời vụ 3 tháng thì xử lý thế nào?
Chuyển sang HĐLĐ xác định thời hạn với thời hạn 3 tháng theo điểm b khoản 1 Điều 20 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14. Nội dung hợp đồng giữ nguyên phần thỏa thuận công việc, chỉ đổi loại hợp đồng cho đúng luật, và lưu ý người này thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc vì thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên.
Thuê cộng tác viên viết bài, trả theo sản phẩm, không ràng buộc giờ giấc thì có phải đóng bảo hiểm không?
Cần đối chiếu với ba dấu hiệu tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14. Nếu người đó tự quyết cách làm, không chịu sự quản lý, điều hành, giám sát thường xuyên thì thiếu dấu hiệu thứ ba. Nhưng nếu thực tế vẫn phải theo lịch phân công, họp giao ban, chịu đánh giá định kỳ thì quan hệ đó có đủ dấu hiệu của hợp đồng lao động, kéo theo nghĩa vụ bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, hiệu lực từ ngày 01/01/2021: Điều 13, Điều 14 và Điều 20.
- Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025: điểm a khoản 1 Điều 2.

