Cập nhật theo Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, Nghị định 158/2025/NĐ-CP và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 67/2025/QH15
Chi phí bảo hiểm bắt buộc là khoản lớn và cố định trong cơ cấu chi phí nhân sự, nên cách làm quen thuộc của nhiều doanh nghiệp là để mức lương ghi trong hợp đồng lao động thấp, rồi bù phần còn lại bằng các khoản phụ cấp và hỗ trợ. Cách làm này có một ranh giới rất rõ trong luật hiện hành, và bên kia ranh giới không phải là tiết giảm chi phí mà là hành vi trốn đóng.
Đăng ký lương thấp hơn quy định bị xếp vào trốn đóng
Tại điểm c khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025, hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này được xác định là trốn đóng BHXH bắt buộc.
Điểm đáng chú ý là cách xác định này không cần chứng minh ý định của doanh nghiệp. Chỉ cần đối chiếu tiền lương đã đăng ký với tiền lương lẽ ra phải làm căn cứ đóng theo Điều 31, thấy thấp hơn là đủ. Các trường hợp có lý do chính đáng không bị coi là trốn đóng được giao cho Chính phủ quy định chi tiết.
Chậm đóng và trốn đóng là hai hành vi khác nhau trong Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, với hệ quả xử lý khác nhau. Doanh nghiệp khai đúng lương nhưng nộp muộn là chuyện khác hẳn doanh nghiệp khai lương thấp hơn thực tế.
Nhiều nơi vẫn xem hai việc này như nhau vì trước đây thường bị gộp lại khi nói chuyện nợ bảo hiểm.
Ranh giới nằm ở bản chất khoản chi, không nằm ở tên gọi
Tại Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, tiền lương làm căn cứ đóng gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Nghị định loại trừ khỏi hai nhóm sau những khoản phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.
Như vậy việc tách một phần thu nhập ra khỏi căn cứ đóng chỉ có cơ sở khi phần đó thực sự biến động theo kết quả làm việc. Khoản gọi là phụ cấp nhưng ghi rõ mức tiền trong hợp đồng lao động và trả đúng số đó mỗi tháng thì vẫn là khoản bổ sung ổn định, vẫn thuộc căn cứ đóng, dù đặt tên là gì.
| Cách làm | Đánh giá theo quy định hiện hành |
|---|---|
| Trả một phần thu nhập dưới dạng thưởng theo doanh số, thay đổi theo tháng | Có cơ sở loại khỏi căn cứ đóng, vì biến động theo năng suất và chất lượng công việc |
| Đổi tên một khoản cố định thành phụ cấp nhưng vẫn trả đều mỗi tháng một mức | Không thay đổi bản chất, vẫn thuộc căn cứ đóng |
| Ghi hợp đồng lao động mức lương thấp hơn mức thực trả và không có khoản biến động tương ứng | Đăng ký tiền lương thấp hơn quy định, thuộc trường hợp trốn đóng |
| Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia, quá 60 ngày kể từ hạn quy định | Thuộc trường hợp trốn đóng |
Phần tiết giảm được thường nhỏ hơn doanh nghiệp tưởng
Khi tính bài toán này, cần đặt cả phần thuế thu nhập doanh nghiệp lên bàn cân. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 67/2025/QH15, khoản chi được trừ phải thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và có đủ hoá đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
Phần thu nhập trả ngoài hệ thống lương chính thức thường thiếu hồ sơ tương ứng, nên rủi ro bị loại khỏi chi phí được trừ khi quyết toán thuế. Khoản tiết giảm được ở bảo hiểm khi đó bị bù lại bằng phần thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thêm, chưa kể tiền chậm nộp.
Còn một chi phí ít được tính tới là tranh chấp lao động. Khi người lao động nghỉ việc và phát hiện mức đóng thấp hơn thu nhập thực tế, quyền lợi hưu trí, ốm đau, thai sản và trợ cấp thất nghiệp của họ đều bị ảnh hưởng, và hồ sơ lương thấp do chính doanh nghiệp lập trở thành bằng chứng bất lợi cho doanh nghiệp.
Việc nên làm thay vì tìm cách tách khoản
Cách bền hơn là thiết kế lại quy chế trả lương để phần biến động theo kết quả công việc là thật, có tiêu chí đo lường, có căn cứ tính và thay đổi theo từng kỳ. Khi đó việc khoản này không nằm trong căn cứ đóng là hệ quả tự nhiên của bản chất khoản chi, có hồ sơ giải trình được, chứ không phải một cách đặt tên.
Doanh nghiệp và người lao động cùng thỏa thuận đóng bảo hiểm trên mức lương thấp thì có được không?
Không. Điểm c khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15 xác định hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 là trốn đóng, không đặt điều kiện về việc hai bên có thỏa thuận hay không.
- Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025: Điều 31 và Điều 39.
- Nghị định 158/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, hiệu lực từ ngày 01/7/2025: Điều 7.
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 67/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/10/2025: khoản 1 Điều 9.
Bài liên quan
- Lợi thế thương mại là gì và phân bổ trong bao nhiêu năm?
- Tổng Cục Thuế giải đáp các vướng mắc về “Quan hệ liên kết” và “Giao dịch liên kết”
- Nghị định 68/2020/NĐ-CP, chính thức hồi tố tăng trần chi phí lãi vay được trừ 30% EBITDA
- Download – HOSE: Cẩm nang hướng dẫn về Kiểm toán nội bộ việc thiết lập và duy trì một chức năng Kiểm toán nội bộ hiệu quả tại Việt Nam


RẤT HAY
Chào Thầy.
Hiện tại em đang làm bảng lương phân bổ trợ cấp để giảm bớt phần đóng bảo hiểm, em đưa qua phần thưởng hiệu suất kinh doanh. Thầy có thể chia sẻ rõ hơn giúp em về quy chế tài chính nội bộ được không ạ? Do đặc thù bên em mức lương cao và chênh lệch đáng kể giữa các vị trí.
Em cảm ơn Thầy.
Hầu như DN nào cũng cố gắng né bảo hiểm dẫn đến ko đảm bảo quyền lợi đầy đủ cho người lao động