Bài viết theo Điều 12 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/07/2026
Phát hiện tờ khai cũ sai thì còn năm năm để sửa. Nhưng nếu kỳ đó đã bị thanh tra, kiểm tra rồi thì đường đi khác hẳn: nộp hồ sơ giải trình, và chịu xử lý như bị phát hiện.
- Thời hạn khai bổ sung: 05 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ của kỳ có sai sót.
- Được khai bổ sung trước khi công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.
- Hồ sơ ngoài phạm vi, thời kỳ thanh tra kiểm tra vẫn được khai bổ sung.
- Kỳ đã thanh tra, kiểm tra thì nộp hồ sơ giải trình, cơ quan thuế rà soát và chấp thuận.
- Bất khả kháng: được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế 30 ngày, khai quyết toán 60 ngày.
- Số thuế đã bị khấu trừ, khai thay, nộp thay thì người nộp thuế không phải nộp nữa.
Ba trường hợp được khai bổ sung
- Trước khi cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.
- Hồ sơ không thuộc phạm vi, thời kỳ thanh tra, kiểm tra nêu tại quyết định thanh tra, kiểm tra.
- Hồ sơ không thuộc trường hợp cơ quan điều tra yêu cầu không được khai bổ sung để phục vụ điều tra vụ án.
Kỳ đã bị thanh tra, kiểm tra thì làm sao
Trường hợp người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp còn sai sót liên quan đến phạm vi, thời kỳ đã thanh tra, kiểm tra, dẫn đến phát sinh tăng số thuế phải nộp, giảm số thuế đã được miễn giảm hoàn, giảm số thuế được khấu trừ, hoặc giảm số thuế đã nộp thừa, thì người nộp thuế được bổ sung hồ sơ giải trình với cơ quan thuế.
- Cơ quan thuế có trách nhiệm rà soát hồ sơ giải trình liên quan đến phạm vi, thời kỳ đã thanh tra, kiểm tra.
- Trường hợp chấp thuận hồ sơ giải trình, cơ quan thuế ban hành thông báo chấp thuận cho người nộp thuế điều chỉnh hồ sơ khai thuế.
Người nộp thuế trong trường hợp này bị xử lý theo quy định như đối với trường hợp cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra phát hiện.
Công chức thanh tra, kiểm tra thuế liên quan đến hồ sơ giải trình chịu trách nhiệm về sai sót chưa được phát hiện đầy đủ qua kiểm tra, trong trường hợp tuân thủ chưa đúng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 38 Luật Quản lý thuế.
Gia hạn nộp hồ sơ khai thuế khi bất khả kháng
| Loại hồ sơ | Thời gian gia hạn tối đa |
|---|---|
| Khai thuế theo tháng, quý, năm, hoặc từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế | Không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ |
| Khai quyết toán thuế | Không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán |
Trường hợp phải kéo dài thời gian gia hạn hơn mức trên, Chính phủ quy định phù hợp với tình hình thực tế.
Khấu trừ, khai thay, nộp thay
Tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp khấu trừ, nộp thay phải khấu trừ thuế của người nộp thuế và khai, nộp số thuế đã khấu trừ. Tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp khai thay, nộp thay phải thực hiện khai thay, nộp thay cho người nộp thuế. Người nộp thuế không phải nộp lại số tiền thuế đã được khấu trừ, khai thay, nộp thay.
Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác và các dịch vụ khác thì trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện việc khai, nộp thuế tại Việt Nam.
Xem thêm: Tiền chậm nộp thuế: mức tính và các trường hợp phải nộp
Được khai bổ sung trong bao lâu?
05 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai sót.
Đã có quyết định thanh tra thì còn khai bổ sung được không?
Được, nếu hồ sơ không thuộc phạm vi, thời kỳ thanh tra, kiểm tra nêu tại quyết định.
Kỳ đã thanh tra xong mà phát hiện sai thì làm gì?
Bổ sung hồ sơ giải trình với cơ quan thuế. Cơ quan thuế rà soát, nếu chấp thuận thì ban hành thông báo cho phép điều chỉnh hồ sơ khai thuế.
Tự khai lại kỳ đã thanh tra có được giảm nhẹ không?
Người nộp thuế bị xử lý như đối với trường hợp cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện.
Gặp thiên tai không kịp nộp tờ khai thì sao?
Được gia hạn không quá 30 ngày với hồ sơ khai thuế theo tháng, quý, năm, từng lần phát sinh; và không quá 60 ngày với hồ sơ khai quyết toán.
Thuế đã bị đơn vị chi trả khấu trừ thì có phải nộp lại không?
Không. Người nộp thuế không phải nộp số tiền thuế đã được khấu trừ, khai thay, nộp thay.
- Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, hiệu lực từ 01/07/2026: Điều 4, Điều 12 và Điều 38.

